Ngay cả khi người ta không làm theo phương pháp này hình thức cực đoan của nó, thì ít trường học nào (nhất là trường trung học và tiểu học) thoát khỏi một sự chú ý thái quá tới những hình thức được cho là cần thiết để học sinh áp dụng nếu như chúng muốn tìm ra kết qủa hợp lô-gich. Người ta cho rằng có những bước nào đó được sắp xếp theo một trật tự nhất định và các bước ấy biểu hiện một cách hiểu ưu việt về môn học và người ta yêu cầu học sinh “phân tích” phương pháp của chúng theo những bước như vậy; nghĩa là học sinh phải học một công thức sáo mòn nào đó.
Mặc dù phương pháp này được sử dụng nhiều nhất trong môn ngữ pháp và môn số học, song nó cũng ảnh hưởng tới cả môn lịch sử và thậm chí môn văn học, khi ấy người ta lấy cớ là để rèn luyện trí tuệ nên đã quy giảm các môn học này thành những đại cương, biểu đồ và những cách phân loại thành những bộ phận từ lớn đến nhỏ dần. Trong khi ghi nhớ cái được mô phỏng giả tạo và cắt rời từ lô-gich của một người lớn thì hầu hết trẻ em đều bị bắt buộc phải phủ nhận xu hướng lô-gich của bản thân chúng. Quan niệm sai lầm này của người thầy về phương pháp lô-gich chắc chắn là nguyên nhân lớn nhất khiến cho môn sư phạm bị mang tiếng xấu, bởi vì “sư phạm” đối với rất nhiều người chỉ có nghĩa là một tập hợp những mẹo cậy học mang tính chất chủ quan, máy móc để thay thế hoạt động tinh thần của cá nhân bằng sự sắp xếp nào đó được làm sẵn từ bên ngoài.
Các ví dụ trên cho thấy rõ một điều rằng, với một cách dạy như vậy thì người ta đã hoàn toàn đồng nhất lô-gich với những thuộc tính hình thức rào đó của nội dung; coi lô-gich là cái đồng nhất với nội dung đã được định nghĩa, đã được chọn lọc, đã được phân loại, đã được tổ chức theo những nguyên tắc nào đó của mối liên kết đã được tìm ra bởi những người đã là chuyên gia trong địa hạt cụ thể đó. Người ta quan niệm phương pháp dạy môn số học, địa lý, ngữ pháp, vật lý, sinh học, hoặc những môn học khác tức là những mẹo đề đưa vào đầu học sinh những đặc điểm được tái tạo lại từ vật liệu cụ thế của các môn học này. Các hoạt động tự nhiên của trí óc được cho là chẳng liên quan gì hoặc thậm chí chống lại mọi thành tựu lô-gich. Vì thế các khẩu hiệu của nhà trường này là “kỷ luật”, “sự kiềm chế”, “cố gắng có ý thức”, “sự cần thiết của các bài tập” v.v. Nhìn bằng quan điểm này thì các môn học, chứ không phải là những thái độ và thói quen, mới là hiện thân của nhân tố lô-gich trong giáo dục. Tự duy chì trở thành tư duy có lô-gich bằng cách học sinh học cách tuân theo một nội dung từ bên ngoài. Để tạo ra sự tuân thủ này, môn học trước tiên phải được phân tích (trong sách giáo khoa hoặc do người thầy thực hiện) thành những yếu tố lô-gich; sau đó mỗi một yếu tố lô-gich này phải được định nghĩa; cuối cùng, tất cả các yếu tố đều phải được sắp xếp thành trình tự hoặc được phân loại theo công thức lô-gich hoặc theo những nguyên tắc chung. Sau đó học sinh sẽ học lần lượt từng định nghĩa một, theo cách bổ sung dần dần từng định nghĩa một để hình thành hệ thống lô-gich, và bằng cách ấy bản thân học sinh hiểu rõ đặc tính lô-gich được đưa vào từ bên ngoài.
Đọc thêm tại:
